Không dễ tìm ra chân lý của loại vấn đề này. Cuốn sách này dành cho tất cả những người say mê đọc sách. Điều này cũng chưa hoàn toàn xác đáng vì xét một cách chặt chẽ thì không có từ nào là hoàn toàn rõ nghĩa.
Hơn nữa, càng chung chung lại càng dễ hiểu - tự thân các quy tắc đã rất dễ hiểu. Kết quả là, độc giả cứ mãi đánh vật với những nguyên tắc đầu tiên mà không thật sự chú ý đến chính bản thân cuốn sách. Nó chung vì mỗi tác giả đều có những ý kiến khác nhau về rất nhiều vấn đề trong phạm vi của chủ đề.
Cũng như âm nhạc cần phải được lắng nghe, một vở kịch nếu chỉ nằm trên giấy sẽ thiếu yếu tố hoạt động thể chất và người đọc sẽ phải bù đắp sự thiếu hụt này bằng cách duy nhất là tưởng tượng mình đang xem vở kịch diễn trước mắt. Văn viết chặt chẽ và súc tích yêu cầu chúng ta phải luôn chú ý. Nhưng nếu những quy tắc của việc đọc sách được tuân thủ và rèn luyện, thì vẫn có thể áp dụng cho bất kỳ loại tài liệu nào khác như báo, tạp chí, tờ rơi, luận văn, hay thậm chí cả những mục quảng cáo.
Với thơ, nó càng quan trọng, quan trọng hơn việc áp dụng quy tắc ấy với một tác phẩm khoa học, triết học hay thậm chí là một cuốn tiểu thuyết hoặc kịch. Các đoạn văn bạn đọc có thể chứa điểm nút - điểm then chốt có ý nghĩa then chốt để hiểu cách tiếp cận và thái độ của tác giả. Tác phẩm này vô cùng khó đối với độc giả thời nay vì cơ bản nó không theo kiểu toán học khi trình bày dưới dạng đối thoại.
Khó khăn là câu hỏi ta muốn tìm lời giải chưa chắc đã được các tác giả coi là câu hỏi. Những hành động đó được bàn trong chương dưới đây. Immanuel Kant đã viết hai tác phẩm triết học nổi tiếng là The Critique of Pure Reason (Bàn về suy luận thuần tuý) và The Critique of Practical Reason (Bàn về suy luận mang tính thực hành).
Điều quan trọng trên hết là đừng quên đọc hai hay ba trang cuối cùng, hoặc những trang cuối cùng của phần chính trong cuốn sách nếu đó là lời kết hay lời bạt. Trong đó, các quy tắc của giai đoạn thứ ba được liệt kê theo trật tự dưới đây: Người đọc có thể dễ dàng tìm ra mục đích đó là gì.
Mặc dù đó là một từ thông dụng nhưng khi bàn về thuyết nhân quả, tác giả đã sử dụng nó theo nghĩa rất khác biệt. Nhưng ngay cả khi chúng tôi đã hiểu đúng ý bạn thì vẫn còn hai sự lựa chọn: chúng tôi có thể đồng ý hoặc không đồng ý. Hai cách giải quyết này mặc dù không đơn giản nhưng đều khả thi.
Ví dụ tiêu biểu nhất là cuốn Kinh Thánh. Khi đó độc giả nợ tác giả một lời đánh giá. Pierre, Andrew, Natasha, công chúa Mary, Nicholas là những cái tên mà ta sẽ nhớ ra ngay dù đã đọc tác phẩm từ rất lâu rồi.
Điều thứ hai, một phần do các chuyên luận không phải là các tác phẩm nghệ thuật trọn vẹn nên các nguyên tắc chủ đạo của chúng không phải lúc nào cũng được giải thích rõ ràng. Mặc dù các triết gia cũng như các nhà khoa học có một kho thuật ngữ chuyên môn, nhưng các từ ngữ thể hiện ý tưởng của họ thường được lấy từ những câu nói thường ngày nhưng được dùng theo nghĩa đặc biệt. Những khái niệm và thuật ngữ này cũng xuất hiện nhiều trong sách báo đương đại mà ta có thể gộp chúng vào cùng một nhóm liên quan đến bình phẩm xã hội.
Khi bạn đã hiểu bài thơ trong tính thống nhất của nó, dù sự hiểu này chưa rõ ràng, bạn vẫn có thể đặt ra những câu hỏi về bài thơ đó. Độc giả giàu kinh nghiệm có thể học cách tiến hành đồng thời cả hai, ở đây chúng ta sẽ bàn về chúng như hai thực thể hoàn toàn khác biệt. Còn độc giả nào không nhận ra điều đó có thể chỉ mang về nhà một hoá đơn mua hàng mà không biết nó là cái gì.