Bạn phải nói lần lượt từng vấn đề một. Bằng phép tương đồng, ta có thể tìm ra tập hợp các quy tắc giống nhau hướng dẫn việc đọc thơ, tiểu thuyết và kịch. Vấn đề nằm ở chính việc gạt bỏ hoàn toàn các câu hỏi triết học hạng nhất vốn rất được độc giả bình thường quan tâm.
Đó có thể là những điều mà triết gia muốn bạn cùng đặt giả thuyết giống họ, hoặc là những vấn đề mà họ cho là hiển nhiên. Các mệnh đề trong lập luận thường được liên kết với nhau bằng các từ như: nếu (cái gì xảy ra), thì (kết quả sẽ); hoặc vì (điều này), nên (có điều kia); hoặc, từ đó suy ra, chúng ta có thể thấy… Nhưng không phải tất cả các câu hỏi do triết gia hỏi và trả lời đều thật sự mang tính triết học.
Chung không có nghĩa là phổ quát. Tiếp tục đọc theo cách này cho đến hết cuốn sách và tránh các sơ đồ mà bạn thấy rắc rối. Phương tiện để đo tính hoàn chỉnh đó nằm ở số lượng các điểm khác biệt độc đáo có giá trị hàm chứa trong vấn đề được so sánh.
Sách thực hành dạy bạn cách làm những điều bạn muốn hoặc nghĩ là nên làm. Những gì bạn hiểu về cuốn sách vẫn đúng và bây giờ nó lại đúng theo nhiều cách hiểu khác nữa. Phần 1 - thiết lập quyền lập pháp trong Quốc hội Mỹ, với hai cơ quan là Thượng nghị viện và Hạ nghị viện.
Một cuốn từ điển tốt sẽ trả lời được cả bốn câu hỏi khác nhau về từ. Tạo một thư mục tạm thời những sách cần đọc về chủ đề (thông qua danh mục sách trong thư viện, các chuyên gia và thư mục sách tham khảo trong các cuốn sách). Còn trong một cuốn bách khoa toàn thư sắp xếp theo chủ đề, chúng thường được đánh dấu rõ ràng, nhưng điểm bất lợi là trong số những dữ kiện đó sẽ có những thứ mà người đọc không quen dùng.
Sai lầm của một số người là không phân biệt được hai nghĩa của từ đồng ý. Ngoài ra, còn có các luận cứ khác được gọi là diễn dịch - mệnh đề này được chứng minh bằng mệnh đề kia. Ở đây, bạn phải tự mình đánh giá tầm quan trọng của chúng dựa trên cảm nhận chung của bạn về cuốn sách như bạn đã đạt được ở bước 1 và 2).
Đến đây, bạn chỉ cần hiểu rằng nếu cùng đọc một tài liệu, người này sẽ đọc hiệu quả hơn người kia nhờ đọc tích cực hơn, và thực hiện các hoạt động có liên quan tài tình hơn. Đó là trừ khi bạn biết cuốn sách nào cần đọc, nếu không bạn không thể đọc theo cách này; nhưng bạn phải đọc đồng chủ đề, nếu không bạn sẽ không biết sách nào nên đọc. Nếu không đọc theo cách đó, một cuốn sách thực hành sẽ không được coi là sách thực hành.
Các nhà triết học là những người hay sử dụng hệ thống từ vựng riêng biệt. Khi các từ trong câu được sử dụng một cách tường minh thì một câu đơn giản thường diễn đạt một nhận định riêng, nhưng một câu ghép thì vẫn nêu lên hai hay nhiều nhận định. Có thể coi việc nêu ví dụ là một cách tốt để giải thích đọc đồng chủ đề là như thế nào.
Một số tác giả khác như Galileo hay Newton, những người sử dụng phương pháp hình học, cũng tiến hành theo cách của Euclid. Bạn đã hiểu được anh ta nói cái gì và phản ứng ra sao, chứ không nghi ngờ hay để ý đến việc anh ta nói thế nào. Có thể sắp xếp trật tự của những cái tốt không khi mà có nhiều cái cùng tốt? Có cái tốt nào quan trọng hơn cái nào không? Có cái nào phụ thuộc cái nào không? Có trường hợp nào những cái tốt xung đột với nhau khiến bạn phải lựa chọn cái này và gạt bỏ cái kia không?
Đò là khi bạn gấp sách lại sau khi đã đọc và suy ngẫm hết khả năng của mình, bạn bỗng nghi ngờ cuốn sách còn có những điều bạn chưa hiểu hết. Một sự thay đổi nhỏ trong thói quen có thể đem lại hiệu quả to lớn là như thế. Một cuốn sách đơn thuần để giải trí chỉ là thú tiêu khiển lúc rỗi rãi và ngoài giải trí ra, bạn không thể nhận thêm được gì từ nó.