Sự gặp gỡ về tư tưởng thông qua phương tiện ngôn ngữ phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng hợp tác của cả hai phái tác giả và độc giả. Những nhà triết học không đặt câu hỏi giống của nhà khoa học, và họ cũng không sử dụng phương pháp tương tự để trả lời. Có thể tóm gọn các đặc điểm của cách đọc này trong từ chính thống.
Còn tác phẩm giả tưởng thường chia sẻ những trải nghiệm - những điều mà người đọc chỉ có thể có bằng cách đọc tác phẩm. Một nửa số sách nghiên cứu về Newton đã được xuất bản hoặc công bố. Độc giả cần đặc biệt lưu ý đến các từ này và cả những từ bạn không hiểu rõ nghĩa.
Như vậy, có thể tạm định nghĩa Đọc sách như một nghệ thuật là quá trình vận dụng trí óc của con người để suy ngẫm về những con chữ, mà không có bất cứ sự trợ giúp nào từ bên ngoài. Không ai có thể học từ một cuốn sách hướng dẫn trước khi đọc được nó. Mặc dù từ bách khoa toàn thư là một từ gốc Hy Lạp, nhưng người Hy Lạp lại không có một cuốn bách khoa toàn thư nào và cũng có thể do cùng một lý do, họ cũng không có lấy một cuốn từ điển.
Tên cuốn sách được nhắc đến liên tục trong rất nhiều cuộc thảo luận. Điều chúng tôi muốn nói là dù các tác giả thể hiện rất rõ mong muốn của họ là người đọc hiểu thấu được ý nghĩa của vở kịch thì họ vẫn muốn chúng ta hiểu hơn thế nữa. Độc giả phải san sẻ một nửa gánh nặng đó để đến với tác giả.
Khi thật sự quan tâm đến cuốn sách và đề tài được thảo luận, chúng ta không chỉ muốn biết nhận định của tác giả mà muốn tìm hiểu xem tác giả thuyết phục chúng ta chấp nhận những nhận định đó như thế nào. Ai trong đời cũng từng một lần nỗ lực đọc một cuốn sách khó những mong được nó khai sáng nhưng không thành. Họ không tuân theo quy tắc đầu tiên của việc đọc phân tích.
Khi đã làm được điều này, học sinh có thể đọc nhanh với tốc độ của trí óc chứ không phải chậm chạp như tốc độ của mắt. Tuy nhiên, do tính chất đặc biệt của lịch sử nên những câu hỏi đó sẽ hơi khác và câu trả lời cũng có thể không hoàn toàn giống với sách mô tả. Ví dụ, có một nhận định cơ bản trong siêu hình học được phát biểu như sau: Không có gì vận động trừ những vật đang tồn tại.
Bạn phải biết tác giả nói gì trước khi quyết định nó đúng hay không. Giai đoạn sẵn sàng đọc được đánh giá qua các bài kiểm tra, hoặc được giáo viên - những người rất giỏi phát hiện ra khi nào một học sinh sẵn sàng đọc - ước đoán. Như đã nói ở phần đầu, phương pháp đọc trình bày trong cuốn sách này có thể áp dụng được với mọi loại tài liệu bạn phải đọc hay muốn đọc.
Trên thực tế, có cả các thí nghiệm cổ điển và các loại sách cổ điển. Ban đầu là hai chữ một, sau đó là ba, bốn, bất kể các âm tiết đó có nghĩa hay không. Các đoạn văn bạn đọc có thể chứa điểm nút - điểm then chốt có ý nghĩa then chốt để hiểu cách tiếp cận và thái độ của tác giả.
Hoặc nếu tên tác phẩm đề cập đến những lĩnh vực mang tính thực hành mà bạn biết như đạo đức, chính trị, kinh doanh, thậm chí có thể là kinh tế học, luật pháp hay y khoa, thì bạn có thể phân loại cuốn sách đó khá dễ dàng. Văn phong cách ngôn: Văn phong cách ngôn cũng là một kiểu trình bày triết học đáng chú ý, mặc dù nó không quan trọng như những hình thức kia. Trong khi triết học cũng giải quyết những vấn đề của thế giới nhưng chúng ta thường ít khi đưa ra ý kiến về những câu hỏi triết học.
Bây giờ, bạn sẽ hiểu vì sao tác giả một cuốn sách thực hành luôn phải sắm vai của một nhà diễn thuyết hay tuyên truyền viên. Đọc truyện ngắn thường dễ hơn tiểu thuyết, và đọc một bài báo thường dễ hơn đọc một cuốn sách cùng chủ đề. Chỉ lúc đó, chúng mới có thể bắt đầu trở thành một độc giả thực thụ.