Ví dụ, nếu bạn nói mọi người đều bình đẳng, chúng tôi có thể nghĩ là bạn cho rằng khi sinh ra, ai cũng được tạo hoá ban cho trí thông minh, sức khoẻ và những khả năng khác hoàn toàn như nhau. Một người đọc sách giỏi bao giờ cũng đọc một cách chủ động với sự tập trung cao. Trong đó, có những phát biểu nêu những lý lẽ khiến bạn nên chấp nhận một kết luận nào đó mà tác giả nêu ra.
Giả sử bạn là một triết gia đang băn khoăn với một trong những câu hỏi đơn giản của con trẻ như nói ở trên, bạn sẽ trả lời thế nào? Ông đã cho xuất bản tất cả những vở kịch của mình, trong đó có ít nhất một vở là Heartbreak House (Ngôi nhà có trái tim tan vỡ) đã được xuất bản trước cả khi được diễn. Có hai khả năng xảy ra: hoặc tác giả sử dụng các từ này theo một nghĩa duy nhất, hoặc theo hai hay nhiều nghĩa khác nhau và liên tục chuyển đổi sắc thái ý nghĩa của từ.
Sẽ là võ đoán chứ không phải biện chứng nếu với mỗi vấn đề quan trọng được nhận diện và phân tích, nó đều khẳng định hoặc cố gắng chứng minh tính đúng đắn hay sai lầm của bất cứ quan điểm nào. Ví dụ, ta có thể đặt những câu hỏi về sự tồn tại như: sự khác biệt giữa tồn tại và không tồn tại là gì? Điều gì chung cho tất cả những gì tồn tại và mọi thứ tồn tại có những đặc tính nào? Có những cách tồn tại khác nhau không? Có điều gì chỉ tồn tại trong trí óc hay phục vụ trí óc không và chúng ta có biết chúng hay khám phá chúng không? Mọi thứ tồn tại có tồn tại hữu hình không hay có những thứ tồn tại không phụ thuộc vào vật chất? Có phải tất cả mọi thứ đều thay đổi không hay có vật nào đó không bao giờ thay đổi? Có cái gì tồn tại vì cần thiết không? Có phải phạm vi của những thứ có thể tồn tại lớn hơn phạm vi của những thứ thật sự tồn tại không? Do việc phải biết cấu trúc của một cuốn sách hết sức cần thiết nên chúng ta có quy tắc đọc sách thứ hai và thứ ba.
Còn độc giả có đức tin đọc một tác phẩm quan trọng đối với tín ngưỡng của mình lại có những khó khăn khác. Điều này giải thích tại sao các tác giả thường thay thế một từ đơn lẻ bằng một cụm từ khá chi tiết khi muốn diễn đạt dễ hiểu. Tuy nhiên, còn có một loại bất đồng khác do chênh lệch về kiến thức.
Ví dụ, khi ta muốn đọc một tài liệu nào đó nhưng nó lại được viết bằng tiếng nước ngoài mà ta không thạo lắm. Có nhiều cách để diễn đạt tính chỉnh thể, và không có cách nào là duy nhất đúng. Bạn cũng phải nắm được các bi kịch dẫn tới cao trào, cao trào đó xảy ra ở đâu và như thế nào, kết quả ra sao.
Có thể nhờ đọc truyện, ta biết thêm vài điều về cuộc chiến. Nhưng mâu thuẫn thường chỉ được ám chỉ chứ không được nói thẳng ra. Ý nghĩa của tác phẩm giả tưởng phụ thuộc vào cả những gì đã nói ra và những gì hàm ẩn trong đó.
Đó chính là những cuốn sách bạn cần tìm kiếm vì chúng là trợ thủ đắc lực nhất giúp bạn trở thành một độc giả thông thái hơn. Ngoài ra, bạn cũng đừng cố nhồi nhét, học thuộc cả một cuốn từ điển. Chúng tôi nhận thấy rằng, các thuật ngữ trong truyện đều là tên các nhân vật và sự kiện.
Đó là trợ giúp người sử dụng khi họ gặp phải những cuốn sách quá khó vì có nhiều thuật ngữ, từ cổ, ẩn dụ, hoán dụ hoặc gặp các từ quen thuộc nhưng lại được sử dụng với nghĩa cũ. Còn độc giả các tác phẩm thơ ca hay giả tưởng không hành động như vậy, mà tuỳ theo tác phẩm tác động đến độc giả như thế nào thì độc giả hành động như thế. Nhưng dù là cách nào, mỗi lập luận đều bao gồm một số mệnh đề liên quan đến nhau, theo dạng điều này xảy ra vì điều kia.
Nhưng theo chúng tôi dù người đọc có kinh nghiệm đến đâu cũng rất khó làm được việc này. Người ta cho rằng ông cũng đã viết những mẩu đối thoại nhưng không có cái nào tồn tại được lâu. Câu ghép là một tập hợp câu nối với nhau bởi những từ như và, nếu… thì, không những… mà còn.
Bản thân nhiều nhà khoa học xã hội tự ý thức được khó khăn này. Quy tắc này đúng với mọi loại sách. Rất nhiều người biết tên cuốn sách này ngay cả khi họ không có sách trong tay.