Một cách nói khác về những gì một nhà khoa học tự nhiên làm là nói rằng ông ta đã quy định việc dùng từ của mình, tức là ông ta thông báo cho bạn những thuật ngữ nào cần cho lập luận của ông ấy và ông sẽ sử dụng chúng như thế nào. Giả sử, bạn không hoàn toàn chắc chắn, nghĩa là trong ban hội thẩm vẫn còn có nghi ngờ. Kết quả là họ chẳng bao giờ thật sự đọc một vở kịch của Shakespeare.
Người ta nhận ra rằng có khả năng đọc to không có nghĩa là có khả năng đọc thầm. Thứ ba, ngay cả khi các nhân vật có hẳn một bài diễn thuyết, ví dụ như Settembrini nói về sự tiến bộ trong cuốn Magic Moutain (Ngọn núi kỳ diệu) của Thomas Mann, chúng ta cũng không thể chắc rằng đó cũng chính là quan điểm của tác giả. Tóm lại, hãy nhớ rằng từ điển chỉ là một cuốn sách để tra từ chứ không phải cuốn sách nói về các sự vật.
Những khác biệt trong phong cách sáng tác sẽ làm cho sự tiếp nhận của độc giả không giống nhau. Vậy còn những việc nào cần làm thêm? Nó chỉ là bản liệt kê về một loại sách và chỉ đưa ra hướng dẫn rất sơ sài về các đoạn có thể tìm trong các cuốn sách khác ngoài loại sách dó.
Chúng tôi muốn gọi đó là những ghi chú có tính biện chứng (lý do sẽ được giải thích trong Phần 4). Bạn có thể đọc nhiều thể loại sách khác nhau nên bạn phải thật linh hoạt và có những thay đổi phù hợp khi áp dụng các quy tắc đó. Nếu bạn hiểu nhận định ẩn chứa trong câu, tức là bạn đã hoàn toàn hiểu được các thuật ngữ.
Cấp độ đọc thứ ba chúng tôi gọi là đọc phân tích. Lý tưởng này đòi hỏi sự nỗ lực làm việc thật cẩn trọng để cân bằng các câu hỏi đối nghịch nhau, loại ra những lời bình mang thành kiến, kiểm tra xem có xu hướng nào quá nhấn mạnh hoặc quá coi nhẹ không. Các mệnh đề trong lập luận thường được liên kết với nhau bằng các từ như: nếu (cái gì xảy ra), thì (kết quả sẽ); hoặc vì (điều này), nên (có điều kia); hoặc, từ đó suy ra, chúng ta có thể thấy…
Vấn đề nêu trên chỉ có thể được giải quyết khi bạn ra ngoài làm việc kiếm sống. Chúng chỉ đơn thuần được sắp đặt với nhau theo cách mới lạ hơn thôi. Giữa tác phẩm mô tả và tác phẩm giả tưởng còn có sự khác biệt về ngôn ngữ.
Các vấn đề này trong cuộc tranh luận nói trên liên quan đến bản chất hoặc tính chất của sự tiến bộ mà họ, với tư cách là các tác giả tiến bộ, khẳng định đó là một sự thật trong lịch sử. Liệu cuốn sách có hướng tới những đối tượng mà mọi người đều biết và bạn có nằm trong nhóm đối tượng đó không? Liệu nhóm người đó có thể nhanh chóng giải quyết tình huống mà tác giả đặt ra không? Hay mọi người đều có thể giải quyết vấn đề đó? Nếu bạn không nằm trong nhóm đối tượng mà cuốn sách hướng tới, có thể bạn sẽ không muốn đọc nó nữa. Tuy nhiên, bạn phải nhận ra rằng nắm được cấu trúc một cuốn sách là một giai đoạn trong quy trình đọc phân tích.
Điều này đúng với bất kỳ cuốn sách nào, đặc biệt là với các tác phẩm triết học. Khi bạn nói biết một điều gì đó tức là bạn hiểu một khía cạnh chung chung nào đó của những sự việc mà bạn đã trải nghiệm. Do đó, nhà khoa học xã hội phải tiếp tục chiến đấu với những thuật ngữ riêng của mình trong suốt tác phẩm của ông và sự chiến đấu đó đã gây ra vấn đề cho độc giả.
Một nguyên nhân khác là việc quy định sử dụng thuật ngữ trong các ngành khoa học xã hội hay khoa học hành vi khó thực hiện hơn. Cuối cùng, Syntopicon còn đóng vai trò hướng dẫn theo ba cách khác biệt. Dù cho họ đọc nhanh đến mức nào, họ cũng không thể tiến bộ được nếu không biết mình đang tìm kiến điều gì và khi nào thì tìm thấy, mà điều này lại rất hay xảy ra.
Mặc khác, sách lịch sử tường thuật lại một câu chuyện, có cốt truyện và nhân vật, có chương, có hồi, có sự kết hợp phức tạp của hành động, cao trào và kết thúc. Nhưng với người biết cách đọc, họ sẽ thực hiện dàn ý đó như một thói quen tự nhiên và dễ dàng. Các quy tắc đó chia làm ba nhóm: Nhóm thứ nhất là các quy tắc cấu trúc, gồm các quy tắc khám phá ra tính thống nhất và cấu trúc toàn thể - bộ phận; Nhóm thứ hai là các quy tắc giải nghĩa, gồm các quy tắc về xác định và giải nghĩa của các thuật ngữ, nhận định, lý luận có trong sách; Nhóm thứ ba là các quy tắc phê phán gồm các quy tắc về phê bình học thuyết của tác giả.